“Vãn Thu, vợ si mê. Gửi lời thay mặt gặp em. Anh không sao, được người dân trong núi cứu, chân bị thương nhẹ, dưỡng lành sẽ về. Đừng lo. Đừng tái giá. Chăm sóc mẹ và Niên Niên cho tốt.”
Cuối thư, còn có một chữ ký vội vàng: Trần Kiến Quốc.
Nước mắt tôi “ào” một cái tràn ra, làm nhòe hết chữ trên giấy.
Anh còn sống!
Anh còn sống!
Tôi ôm chặt lá thư vào ngực, vừa khóc vừa cười như một kẻ điên.
Mẹ chồng nghe tiếng chạy ra, thấy lá thư trong tay tôi cũng xúc động không nói thành lời, chỉ lẩm bẩm:
“Ông trời có mắt, ông trời có mắt rồi!”
Tôi cầm thư, lập tức chạy đến nhà Cố Trường Phong.
Khi tôi lao vào, anh đang cho Tiểu Bảo uống nước, động tác vẫn vụng về, nước rớt ướt cả ngực đứa trẻ.
“Đoàn trưởng Cố!”
Tôi đập bức thư xuống trước mặt anh, kích động nói không thành câu:
“Là Kiến Quốc! Thư của Kiến Quốc! Anh ấy còn sống!”
Động tác của Cố Trường Phong dừng lại.
Anh đặt cốc nước xuống, cầm lá thư, đọc tiến bước đọc lại thật kỹ.
Ngón tay anh nhẹ nhàng lướt qua ba chữ “Trần Kiến Quốc” trên giấy, ánh mắt phức tạp.
“Tốt quá rồi.”
Anh ngẩng đầu ngắm tôi, trên gương mặt lộ ra nụ cười chân thành đầu tiên suốt nhiều ngày qua.
“Anh đã biết, cậu ấy không dễ gì mà chết được.”
Khoảnh khắc ấy, ánh nắng ngoài cửa sổ rọi vào, phủ lên cả người anh một tầng sáng vàng óng.
Tôi dõi theo nụ cười ấy, bỗng ngây dại.
“Trong thư anh ấy cất lời được dân trong núi cứu.”
Tôi lau nước mắt, sốt ruột hỏi:
“Vậy… chúng ta có thể tiến bước tìm anh ấy không?”
Nụ cười trên môi Cố Trường Phong thu lại, anh lắc đầu.
Việc đi tiếp vào nơi anh ấy biến mất là điều không thể. Nơi đó giờ đây là một vùng đất hiểm nguy, đến cả đội cứu hộ chuyên nghiệp cũng khó lòng vượt qua. Việc anh ấy có thể gửi được bức thư này đến tay tôi đã là một phép màu rồi.
Anh ta chỉ tay vào một vòng tròn đỏ rực trên tấm bản đồ trải rộng.
Anh ta khẳng định, “Chắc chắn cậu ấy đang ẩn náu đâu đó quanh đây. Nhưng nếu không có mệnh lệnh từ cấp trên, chúng ta không thể tùy tiện hành động.”
Nhưng trái tim tôi lại nặng trĩu, một nỗi tuyệt vọng dâng lên. “Vậy chúng ta phải đợi đến bao giờ?”
“Sắp rồi,” anh ta đáp, ánh mắt nhìn tôi đầy kiên định. “Tin tôi đi.”
Việc nhận được lá thư ấy như một tia sáng rực rỡ, xua tan đi bao u ám trong cuộc đời tôi. Tôi không còn là “người vợ có chồng đã hy sinh”, mà bỗng chốc trở thành “người thân của quân nhân đang làm nhiệm vụ”.
Những lời xì xào, bàn táôi trong sân bỗng chốc im bặt. Ngay cả chị Lý, người luôn tỏ ra khó xử khi gặp tôi trước đây, giờ cũng gượng gạo nở một nụ cười chào hỏi. Đúng là cuộc đời thay đổi nhanh đến vậy.
Tôi vẫn đều đặn đến nhà Cố Trường Phong để chăm sóc Tiểu Bảo mỗi ngày. Nhưng sự khác biệt lớn nhất nằm ở tâm trạng của tôi. Trước đây, tôi đến vì nghĩa vụ, vì sự bất đắc dĩ và gánh nặng cuộc sống. Còn giờ đây, lòng tôi tràn đầy sự biết ơn chân thành. Nếu không có sự nỗ lực không ngừng nghỉ của anh ấy trong việc tìm kiếm, có lẽ lá thư này đã không bao giờ đến được tay tôi.
Tối hôm đó, sau khi tôi cho Tiểu Bảo bú xong, thằng bé đã ngủ say như một thiên thần. Khi tôi chuẩn bị cáo từ ra về, Cố Trường Phong bất ngờ gọi tôi lại.
“Ngồi xuống đã.”
Anh chỉ vào chiếc ghế đối diện, ra hiệu cho tôi ngồi. Tôi hơi ngạc nhiên trước lời đề nghị đột ngột này, nhưng vẫn vâng lời ngồi xuống. Anh rót cho tôi một cốc nước lọc, im lặng suy nghĩ một lúc lâu rồi mới chậm rãi mở lời.
“Sau khi Kiến Quốc trở về, em định sẽ làm gì?”
Tôi sững sờ, không hiểu vì sao anh lại hỏi một câu như vậy. “Làm gì ạ? Thì… sống tốt cùng anh ấy chứ sao nữa.”
“Ý anh là,” anh nhìn chằm chằm vào mặt bàn, những ngón tay gõ nhẹ lên bề mặt gỗ một cách vô thức, “em… còn tiếp tục cho Tiểu Bảo bú nữa không?”
Lúc này, tôi mới bỗng nhiên hiểu ra ý đồ sââu hỏi của anh.
Đoàn trưởng Cố Trườười lại, ánh mắt anh như xoáy sâu vào tôi, một người phụ nữ đã có gia đình. Việc tôi ngày ngày lui tới chốn này, dù mục đích là gì, hẳn cũng đủ để người ngoài bàn tán.
Một cảm giác nhói đau bất chợt len lỏi trong lồng ngực.
Ánh mắt tôi dừng lại nơi đứa bé đang say giấc trên chiếc nôi gỗ. Thằng bé đã lớn hơn nhiều so với lần đầu tôi gặp, khuôn mặt tròn trịa mũm mĩm, đôi má phúng phính ửng hồng.
Tôi nhận ra mình đã dàé bỏng này một thứ tình cảm thật sâu đậm.
“Tiểu Bảo… đã ăn được cháo chưa?” Giọng tôi khe khẽ vang lên, cố gắng không làm kinh động giấc ngủ yên lành của nó.
“Chưa đâu,” Cố Trường Phong đáp, cái lắc đầu củút ưu tư, “bé sinh non, hệ tiêu hóa còn yếu lắm. Bác sĩ nói ít nhất phải đợi đến một tuổi mới có thể bắt đầu ăn dặm.”
Một tuổi. Tức là còn cả một chặng đường dài, hơn nửa năm nữa. Tôi im lặng, tâm trí miêòng suy nghĩ.
“Nếu em cảm thấy không tiện, cũng không sao đâu.” Anh nhanh chóng lên tiếng, như đọc thấu nỗi lòng tôi. “Anh đã báo cáo lên trên, xin cấp một lô sữa bột mới. Chỉ là trên đường vận chuyển, có lẽ…”
“Tôi cho bú!” Lời nói bật ra khỏi môi tôi một cách bản năng, trước cả khi tôi kịp suy nghĩ.
Ngay khi câu nói thoát ra, cả tôi và anh đều sững lại. Không khí chợt đặc quánh. Tôi vội cúi gằm mặt, cảm nhận hơi nóng lan tỏa trên hai má.
“Ý tôi là…” Tôi ngập ngừng, cố gắng giải thích, “chỉ cần Tiểu Bảo cần, Kiến Quốc… anh ấy chắc chắn sẽ hiểu. Anh ấy là người của anh, anh ấy hiểu rằng việc anh làm là vì cứu người, cứu một sinh linh.”
Cố Trường Phong nhìn tôi, đôi mắt anh sâu thẳm, như chứa đựng một dòng chảy ngầm mãnh liệt, khó dò.
“Vãn Thu,” anh bất chợt gọi thẳng tên tôi, không còn là “em dâu” như trước nữa, “em thực sự là một người phụ nữ tốt.”
Trái tim tôi khẽ rung lên một nhịp.
Cùng lúc đó, từ ngoài hành lang vọng tới tiếng bước chân dồn dập cùng giọng nói khẩn trương.
“Báo cáo đoàn trưởng! Điện khẩn từ tiền tuyến! Đội cứu hộ… đã tìm thấy Trần Kiến Quốc rồi!”
Tôần Kiến Quốc đã bình phục và được tìm thấy, tim như bị ai bóp nghẹt. Chiếc ghế gỗ nặng nề đổ sầm xuống sàn nhà, tạo ra một tiếng động khô khốc vang vọng trong căn phòng.
“Anh ấy… anh ấy đang ở đâu? Có bị thương nặng không?” Tôi túm lấy cánh tay của cậu liên lạc viên vừa chạy tới, hơi thở gấp gáp như muốn nuốt chửng mọi lời giải đáp.
Cậu ta thở hổn hển, giọng nói run run: “Đã đưa đến bệnh viện quân khu rồi ạ! Chính ủy bảo tôi đến báo cho Đoàn trưởng Cố, ngài ấy bảo ngài lập tức đến ngay!”
Chưa kịp để tôi hoàn hồn, Cố Trường Phong đã lao ra ngoài như một cơn gió, chỉ kịp khoác vội chiếc áo rồi biến mất trong chớp mắt. Anh ta chỉ kịp nói với tôi một câu ngắn gọn: “Ở lại trông trẻ.”
Tôi đứng chết trân nhìn theo bóng lưng anh khuất dần. Đã đưa vào bệnh viện, liệu có phải anh ấy đã bị thương rất nặng? Cảm giác bất an dâng trào. Tôi đặt Tiểu Bảo đang say giấc nồng xuống giường, khóa chặt cửa rồi vội vã chạy theo hướng bệnh viện quân khu.
Không khí trong bệnh viện căng như dây đàn, ánh đèn trắng xóa hắt lên những gương mặt nghiêm nghị của các lãnh đạo và Cố Trường Phong đang đứng đợi trước cửa phòng cấp cứu.
“Đoàn trưởng Cố, Kiến Quốc anh ấy…” Tôi chạy đến, giọng nói run rẩy không kiềm chế được.
Cố Trườại, ánh mắt anh có một tia trấn an ngắn ngủi. “Đừng lo, bác sĩ đang cấp cứu. Cậu ấy chỉ bị mất máu nhiều, không nguy hiểm đến tính mạng.”
Nghe được câu “không nguy hiểm tính mạng”, đôi chân tôi bỗng chốc như nhũn ra, suýt ngã khuỵu xuống sàn. May mắn thay, Cố Trườóng đỡ lấy cánh tay tôi. Bàộng và ấm áp, truyền qua lớp áo mỏng một luồng nhiệt bỏng rát. Tôi khựng lại, bản năng muốn rút tay ra, nhưng anh đã buông ra ngay, gương mặt lại trở về vẻ nghiêm nghị thường ngày.
“Cô qua bên kia ngồi nghỉ một lát, ở đây có tôi.”
Tôi ngồi xuống chiếc ghế dài lạnh lẽo trong hành lang, mỗi phút trôi qua như bị thiêu đốt trên chảo dầu. Không biết bao lâu sau, cánh cửa phòng cấp cứu cuối cùng cũng bật mở. Một bác sĩ đeo khẩu trang bước ra.
“Ai là người nhà của Trần Kiến Quốc?”
“Tôi! Bác sĩ, tôi là vợ anh ấy!” Tôi lập tức lao tới.
“Bệnh nhân đã qua cơn nguy hiểm.” Bác sĩ thông báo. “Xương chân trái gãy, trên người có nhiều vết thương, cần dưỡng lâu dài. Ngoài ra…” Bác sĩ ngập ngừng, nhìn tôi rồi liếc về phía sau lưng tôi, nơi Cố Trường Phong đang đứng, ánh mắt thoáng chút kỳ lạ. “Khi hôn mê, bệnh nhân liên tục gọi một cái tên.”
Tim tôi thắt lại. “Anh ấy gọi tên gì?”
“Anh ấy gọi… ‘Đoàn trưởng’.”
Theo phản xạ, ánh mắt tôi hướng về phía Cố Trường Phong. Anh đứng thẳng, dáng người nghiêm chỉnh, vẻ mặt không chút dao động, nhưng bàn tay buông thõng bên người đã âm thầm siết chặt lại thành nắm đấm.
Trần Kiến Quốc được chuyển đến phòng bệnh thường. Anh nằm đó, gương mặt và cánh tay đều quấn băng trắng xóa, chân trái bó bột dày cộp được treo cao. Anh ngủ say, đôi mày nhíu chặt như đang chìm trong một giấc mơ dữ dội. Tôi ngồi bên giường, nắm lấy bàn tay lành lặn của anh, nước mắt lặng lẽ tuôn rơi. Anh gầy hơn, rám nắng hơn, bàạn hơn. Đây chính là người đàn ông của tôi, một anh hùng đã đi qua cửa tử vì đất nước.
Sau khi Cố Trường Phong và các lãnh đạo khác đến thăm rồi rời đi, căn phòng chỉ còn lại hai vợ chồng tôi. Tôi thức trắng đêm bên cạnh anh.
Sáng hôm sau, anh cuối cùng cũng tỉnh lại. Vừa mở mắt thấy tôi, đôi mắt mờ đục ấy bỗng bừng lên một tia sáng. “Vãn Thu…” Giọng anh khàn khàn, nứt nẻ.
“Em đây, em ở đây!” Tôi cúi xuống, áp mặt vào tay anh, nước mắt lại trào ra, thấm đẫm trên làạn của anh. “Anh về rồi.”
Anh dùng hết sức, bàn tay còn lại khẽ vuốt ve mái tóc tôi. Chúng tôi ôm lấy nhau thật chặt, như muốn bù đắp cho những tháng ngày xa cách đằng đẵng.
“À đúng rồi,” anh chợt nhớ ra, “Đoàn trưởng đâu? Trước khi ngất, anh hình như thấy đoàn trưởng dẫn người tới cứu anh.”
“Anh ấy…” Tôi hơi chần chừ, rồi nói: “Anh ấy đến hôm qua, thấy anh không sao thì về rồi. Trong đơn vị bận nhiều việc lắm.”
“Bận là đúng.” Trần Kiến Quốc đầy vẻ kính phục. “Vãn Thu, em không biết đâu, lần này nếu không nhờ đoàn trưởng quyết đoán, cả tiểu đoàn bọn anh tiêu hết rồi! Anh ấy chính là chỗ dựa tinh thần, là thần ấy!”
Nghe chồng mình ca ngợi người đàn ông khác với sự ngưỡng mộ sâu sắc, lòng tôi rối bời khó tả.
“Anh nghỉ dưỡng cho tốt, đừng nghĩ nhiều nữa.” Tôi kéo chăn cho anh. “Em đi lấy ít nước nóng.”
Tôi ra khỏi phòng, vừa rẽ qua hành lang đã thấy một bóng dáng quen thuộc. Là Cố Trường Phong. Anh không mặc quân phục, chỉ đơn giản là một chiếc sơ mi trắng, dựa vào tường, tay cầm một điếu thuốc chưa châm lửa. Trông anh có vẻ đã đứng đây rất lâu, dưới chân đã đọng một vệt nước nhỏ – sương sớm thấm vào gấu quần.
Anh thấy tôi thì khựng lại, rồi cất điếu thuốc. “Anh ấy tỉnh rồi?”
Tôi gật đầu. “Tỉnh rồi. Tinh thần… cũng ổn.”
“Vậy thì tốt.” Anh thở phào nhẹ nhõm. “Anh chỉ… tiện đường ghé xem thôi.”
Tiện đường? Bệnh viện quân khu nằm tận phía đông, còn văn phòng và chỗ ở của anh đều ở phía tây. Tôi biết, anh không muốn làm phiền khoảnh khắc đoàn tụ của chúng tôi.
“Đoàn trưởng Cố,” tôi nhìn đôi mắt đỏ ngầu và cằm lún phún râu của anh, khẽ nói, “cảm ơn anh. Kiến Quốc… suốt thời gian hôn mê vẫn gọi tên anh.”
Anh nhếch môi, nở một nụ cười nhạt. “Cậu ấy là lính anh dẫn ra chiến trường, anh phải đưa cậu ấy nguyên vẹn trở về. Đây là trách nhiệm của anh.”
Chúng tôi im lặng một lúc, không khí có chút gượng gạo.
“À đúng rồi,” tôi chợt nhớ ra, “Tiểu Bảo… bé sao rồi? Tối qua có quấy không?”
Nhắc đến con, ánh mắt Cố Trường Phong dịu hẳn đi. “Không quấy, chị Trương chăm tốt lắm.” Anh ngừng lại một chút, nhìn tôi, ánh mắt sâu thẳm. “Vãn Thu, Kiến Quốc về rồi, em… cũng nên trở về với cuộc sống của mình.”
Trái tim tôi đau nhói như bị kim châm.
“Từ hôm nay, em không cần qua nữa.” Anh tiếp tục, giọng bình thản như đang nói về một chuyện không liên quan gì đến mình. “Anh sẽ lo chuyện sữa cho Tiểu Bảo. Em… chăm sóc Kiến Quốc cho tốt.”
Nói xong, anh không nhìn tôi nữa, quay người rời đi. Nhìn bóng lưng cô độc và dứt khoát của anh, cổ họng tôi nghẹn lại, không thốt nên lời.
---
Sau khi Trần Kiến Quốc trở về, cuộc sống của tôi đương nhiên quay lại guồng quay chăm sóc anh. Mỗi ngày, tôi chạy đi chạy lại giữa bệnh viện và nhà, mang cơm cho anh, lau người cho anh, lắưa kể chuyện tiền tuyến, và đặc biệt là những lời ca ngợi không ngớt dành cho Cố Trường Phong. Mỗi lần như vậy, tôi lại cảm thấy lòng mình có chút lơ đãng, một cảm giác trống vắng khó tả.
Tôi giữ đúng “thỏa thuận” với Cố Trường Phong, không đến nhà anh nữa. Thế nhưng, trong lòng, khoảng trống ấy ngày càng lớn dần. Ban đêm, khi cho Niên Niên bú, sữa vẫn căng tức. ú no, phần sữa còn lại khiến bầu ngực tôi đau âm ỉ. Trước đây, chỗ sữa ấy đều là dành cho Tiểu Bảo.
Không biết giờ thằng bé gầy gò đó ăn gì? Sữa bột đã đến chưa? Có bị đói không? Ý nghĩ này vừa nảy ra, liền không cách nào dập xuống được.
Một tuần sau, vết thương của Trần Kiến Quốc đã ổn định hơn, anh có thể chống nạng đi lại. Anh nói trong bệnh viện bí bách, muốn về nhà tĩnh dưỡng. Thế là tôi dìu anh, từng bước một đi trên con đường rợp bóng câân đội. Nắng chiều thật đẹp, nhiều chị vợ lính bế con ra sân chơi. Thấy chúng tôi, ai nấy đều nhiệt tình chào hỏi.
“Kiến Quốc về rồi! Giỏi quá!”
“Vãn Thu, cuối cùng cũng vượt qua được rồi nhé!”
Chị Lý cũng bế con trai bước lại, mặt nở nụ cười: “Kiến Quốc, cậu đúng là anh hùng của khu mình đấy! Vãn Thu chăm cậu khéo thật.”
Trần Kiến Quốc nghe vậy rất đắc ý, cười toe toét, mặt đầy vẻ tự hào. Đúng lúc đó, tôi thấy chị Trương, chị cũng bế theo một đứa trẻ. Đứa trẻ ấy nhỏ hơn các bé khác, mặc chiếc áo cũ bạc màu, đôi mắt đen láy mở to tò mò nhìn thế giới.
Là Tiểu Bảo.
Bước chân tôi chợt khựng lại.