"
Tứ, vợ mày đã hại chúng tao! Mày phải đền!"
họ hét lên.
Họ đập phá tan hoang căn nhà, thậm chí còn định giật lấy tôi ném xuống đất.
Cha tôi hứng trọn hai quả đấm, mặt mày bầm dập co rúm trong góc tường, hai tay ôm chặt lấy tôi không buông.
Chẳng mấy chốc, mười sáu gã đàn ông chuyển mục tiêu sang mẹ tôi vừa sinh nở.
"
Đã đuổi vợ chúng tao, những người chúng tao đã bỏ tiền mua về, nếu nó đẻ đượão Tứ, thì cũng phải đẻ cho chúng tao!"
họ hét lên.
Mười sáu người cười nham hiểm, tay đồng loạt cởi thắt lưng.
Cha tôi gào thét điên cuồng, nhưng vẫn không dám buông tay vì sợ tôi sẽ bị giật ngay lập tức.
"
Tứ... Anh phải bảo vệ Tiểu Nghĩa..."
mẹ tôi thốt lời cuối rồi gục xuống sau cái tát của một tên nào đó.
Tôi cảm nhận được nỗi đau và sợ hãi khi nhớ lại khoảnh khắc đó, và tôi biết rằng lời nguyền trong núi vẫn còn đó, chờ đợi để gây ra sự thống khổ cho làng ta.
Tôi vẫn nhớ như giorno ngày xưa, khi mẹ tôi bỏ lại một di ngôn cuối cùng trước khi ra đi. Bà ấy đã xuất huyết nặng sau sinh, và máu loang khắp nền nhà như một biểu tượng của sự mất mát và đau thương.
Cha tôi quỳ gối trong vũng máu, ôm lấy tôi và cõng mẹ lên, quyết định không để làng chúng ta xử lý theo cách họ muốn. Làng không cho phép mẹ tôi, người phụ nữ "ô uế" này, được chôn cất trong mộ tổ, và họ muốn vứt bà ấy vào rừng hoang như những người phụ nữ trước đây.
Dân làng đã vây kín nhà chúng ta, ép cha tôi giao xác mẹ để đem đi vứt bỏ. Nhưng cha tôi không bỏ rơi mẹ tôi, và ông đã quyết định tự mình tìm một nơi an nghỉ cho bà ấy. Chúng ta đã từng bước lê vào núi sâu, và vài ngày sau, những người đàn ông trong làng đã gặp một kết thúc thảm khốc.
Không ai biết hung thủ là ai, nhưng lời đồn lan truyền về một người phụ nữ tóc dài mặc váy xuất hiện trong đêm tối. Ông Sáu già đã nhắm đôi mắt đục ngầu của mình và nói: "
Đây là oan hồn báo thù rồi, đều là quả báo của họ thôi, sau này không ai được nhắc lại chuyện này nữa."
Thế là, mọi người đều giả vờ như quên đi, quên đi suốt mười bốn năm trời. Ngoài những cái xác kia, chỉ còn vài người biết sự thật. Ông Sáu đã chết trong tư thế mắt trợn ngược, miệng lẩm bẩm về những con kiến khổng lồ hóa thân từ phụ nữ trong làng.
Từ đó, truyền thuyết "kiến đẻ ra người" lan truyền khắp xóm. Chưa ai từng thấy kiến khổng lồ, cho đến trận mưa lớn năm ấy. Năổi, cha tôi đã lên núi viếng mộ mẹ, và phát hiện ngôi mộ nhỏ năm xưa đã thành tổ kiến.
Khi tôi nhìn thấy tổ kiến đó, tôi đã cảm thấy một sự sợ hãi và kinh ngạc. Tổ kiến đó như một biểu tượng của sự sống và cái chết, và nó đã làm tôi nhớ lại mẹ tôi và những gì đã xảàng chúng ta. Tôi đã cảm thấy một sự kết nối với mẹ tôi và với lịch sử của làng chúng ta, và tôi đã quyết định sẽ không bao giờ quên đi những gì đã xảy ra.
Tôi đứng trước cha, cố gắng hiểu lời nói của ông. Cha kể về những kiến khổng lồ đã đào hang xuyên qua quả địa cầu, và về việc mẹ tôi biến mất khi ông đào lên. Chỉ còn lại kiến chúa khổng lồ, nửa thân trên đã hóa hình người.
"
Kiến chúa ngày càng giống mẹ con," cha nói, "có lúc còn nhìn cha chằm chằm."
Tôi nhìn cha, thấy sự nỗi nhớ và đau khổ trong mắt ông. Ông nghĩ rằng mẹ tôi đã hòa làm một với kiến chúa, vẫn giữ được ý thức. Có lẽ đó là lời nguyền của loài kiến.
"
Nhưòn dung túng bọn đàn ông lên núi làm nhục kiến chúa... làm nhục mẹ con?"
tôi hỏi, cảm thấy tức giận và bối rối.
Cha thở dài, nhìn tôi với ánh mắt buồn. "
Cha cần trứng của nó," ông nói. "
Cha muốn những đứa con mà lũ đàn ông đó gọi là 'con trai'."
Ánh mắt cha bỗng sắc lạnh, và ông bắt đầu kể về những con kiến khổng lồ sinh ra từ xác chất đống trong nạn đói năm nào. "
Vốn dĩ kiến có thể ăn mọi thứ," ông nói, "nhưng bị hạn chế bởi kích thước nhỏ bé. Giờ đây, vài chục con kiến khổng lồ có thể xơi sạch gia súc hay xác người chỉ trong mười mấy phút."
Nhưng bản năng săn mồi của chúng vẫn như kiến thường – không dám tấn công sinh vật sống. Tôi cảm thấy sợ hãi và bấói.
"
Tiểu Nghĩa, bao năông ngừng nghĩ cách trả thù cho mẹ con," cha nói, mắt ông mở to đầy tia máu. "