Tiết Thanh Minh đã đến, và như mọi năm, ông nội chuẩn bị dẫn cả nhà lên núi để tảo mộ.
Tôi nhớ như ngày hôm qua, khi chúng tôi lên núi, chú hai của tôi bất ngờ thắp ba nén hương trước một ngôi mộ vô chủ. Hành động này của chú hai khiến ông nội mặt tái mét, giậm chân dập tắt ba nén hương và giận dữ quát: “Mày sống lâu mà đòi chết sớm à? Muốn gây chuyện chết chóc sao?”
Tôi có thể cảm nhận được sự bực tức trong giọng nói của chú ãi lại: “Mẹ con tôi đột nhiên mất tích trên núi này, biết đâu một trong những nấm mồ kia chính là nơi an nghỉ của bà? Thắp hương có khi còn an ủi được linh hồn bà!”
Ông nội vẫn tiếp tục nổi trận lôi đình, quát mắng chú hai: “Mày còn dám thắp bừa, tao đập gãy chân bây giờ!”
Hai người cãi nhau ầm ĩ, và cuối cùng, chú hai dẫn cả nhà xuống núi trước. Tôi định đuổi theo để khuyên giải, nhưng ông nội gọi lại và bảo tôi đừng đi.
Sau khi chú hai đi, ông nội tiếp tục dẫn chúng tôi tảo mộ. Trên đường, ông dặn: “Trong núi này nhiều mộ hoang lắm, gặp loại mộ này thì một hạt gạo cúng cũng không được dâng. Không thì mang họa sát thân, hối không kịp!”
Tôi nghe vậy nhưng không dám ý kiến. Bố tôi thì liên tục gật đầu theo lời ông. Tôi có thể cảm nhận được sự không thoải mái trong không khí, và tôi biết rằng ông nội đang cố gắng bảo vệ chúng tôi khỏi điều gì đó.
Lúc về nhà đã ba bốn giờ chiều. Bố tôi dọn sân và bảo tôi pha trà cho ông nội. Ông nhấp ngụm trà, thở dài: “Tiểu Xuyên à, ông không cố ý nổi nóng với chú hai con đâu. Những ngôi mộ vô chủ ấy, biết đâu dưới đó là người chết bất đắc kỳ tử, hay lũ quỷ giặc ngoại xâm tàn ác? Chúng chết rồi không siêu thoát được, bị vướng vào thì khó sống lắm…”
Tôi nghe ông lẩm bẩm, và bất giác, tôi hỏi: “Ông ơi, hồi đó bà nội lên núi rồi mất tích, rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra?”
Vừa dứt lời, mặt ông nội đã biến sắc. Ông nhìn tôi với một biểu cảm phức tạp, như thể ông đang cố gắng quyết định liệu có nên nói cho tôi biết sự thật hay không.
Tôi có thể cảm nhận được sự hồi hộp trong không khí, và tôi biết rằng câu hỏi của tôi đã vô tình gợi lên một điều gì đó sâu sắc và đau đớn trong lòng ông nội.
Tôi nhớ như ngày hôm qua, ông nội của tôi gắt gỏng: “Chuyện không nên hỏi thì đừng hỏi!”, giọng nói của ông nội nặng nề và nghiêm khắc, khiến tôi không dám hỏi thêm câu hỏi nào.
Tôi vội vàng gật đầu, xin lỗi ông nội vì đã đặt câu hỏi không phù hợp. Lúc đó, tôi cảm thấy một chút sợ hãi và không hiểu tại sao ông nội lại phản ứng như vậy.
Sau đó, ông nội lấy ra một lá bùa vàng buộc dây đỏ và đưa cho tôi: “Đưa cho chú hai con, bảo nó đeo ít nhất một tuần. Nếu nó không chịu, thì nói... là ông nhận sai rồi.” Tôi nhận lấy lá bùa và cảm thấy một chút ngạc nhiên vì ông nội vốn chẳng bao giờ chịu thua chú hai.
Tôi chạy sang nhà chú hai ngay tối đó, và thấy chú đang ngồi một mình trong sân, hút thuốc lá. Thấy tôi, chú hỏi: “Tiểu Xuyên, cháu đến đây làm gì?”, giọng nói của chú nhẹ nhàng và thân thiện.
Tôi đưa lá bùa cho chú hai và nhắc lại lời ông nội. Chú hai nhận lấy lá bùa, lẳng lặng đeo vào cổ rồi bảo tôi về nhà. Tôi cảm thấy một chút nhẹ nhõm khi thấy chú hai đồng ý đeo lá bùa.
Khi tôi kể lại với ông nội, ông mới yên tâm ăn được vài miếng cơm. Tôi thấy ông nội có vẻ nhẹ nhõm và cảm thấy một chút yên tâm.
Tuy nhiên, vào nửa đêm, tiếng thím hai thấên: “Bố ơi! Vĩ Minh gặp chuyện rồi!”, khiến tôi giật mình tỉnh giấc. Tôi nhanh chóng mặc quần áo và chạy ra ngoài sân, thấy ông nội và bố tôi đã đứng ngoài sân.
Thím hai khóc nức nở: “Vĩ Minh, anh ấy chạy ra nghĩa địa rồi!”, khiến tôi cảm thấy một chút sợ hãi và lo lắng. Ông nội mặt biến sắc, hốt hoảng cầm búa chạy đi, và bố tôi vội đuổi theo.
Tôi nhặt lưỡi hái trong sân và chạy theo hướng ngôi mộ vô chủ chiều nay. Khi tôi đến nơi, cảnh tượng khiến tôi lạnh sống lưng: chú hai đầu cắm xuống đất như trồng chuối, hai bàn tay nhuộm đỏ máu tươi.
Ông nội hét lên, định kéo chú hai lên nhưng người chú đã cứng đờ. Mũi miệng chú đầy đất cát, khuôn mặt tái nhợt vô hồn. Thím hai khóc vật vã bên mộ, khiến tôi cảm thấy một chút đau đớn và xót xa.
Tôi đột nhiên cảm thấy gáy lạnh buốt, như có thứ gì đang rình rập sau lưng. Quay lại thì chẳng thấy gì, khiến tôi cảm thấy một chút sợ hãi và không hiểu tại sao.
Bà nội mất tích trên núi, giờ chú hai cũng chết ở đây. Lời ông nội ứng nghiệm rồi sao? Tôi cảm thấy một chút bối rối và không hiểu tại sao những việc này lại xảy ra.
Tôi không thể không nhớ lại khoảnh khắc mà thím hai của tôi nức nở, lòng tôi đầy nghi hoặc và cảm giác đau đớn.
“Hãy đưa thím hai về nhà đi, Tiểu Xuyên,” giọng bố tôi vang lên, làm tôi phải ngừng lại và nhìn bố.
Tôi đáp lời, rồi nhẹ nhàng đỡ thím hai xuống núi, cố gắng an ủi bà trong lúc bà khóc lóc.
Suốt đường đi, thím hai không ngừng lẩm bẩm: “Tiểu Xuyên, chuyện này chắc chắn liên quan đến bà nội cháu. Ngày xưa bà mất tích, và bây giờ chú hai cũng biến mất. Tiếp theo, chẳng biếà sẽ gặp nạn nữa. Biết làm sao đây?”
Thấy thím hai khóc lóc thảm thiết, tôi chẳng biết phải làm gì để an ủi bà, nhưng trong lòng, tôi cũng cảm thấy bồn chồn và lo lắng.
Cái chết đột ngột của chú hai khiến tôi dâng lên nỗi bất an khó tả, và tôi không thể không suy nghĩ về những gì đang xảy ra.
Khi chúng tôi đưa được thi thể chú hai xuống núi, cả bố và ông nội đều có vẻ mặt ủ rũ, tâm trạng nặng nề.
Bố liếc nhìn tôi, rồi chậm rãi bước lại gần: “Tiểu Xuyên, chuyện chú hai mất, con đừng nói ra bên ngoài, hiểu chưa? Chúng ta cần phải giữ bí mật cho đến khi cảnh sát điều tra xong.”
Tôi nhìn bố, và hỏi: “Bố ơi, có phải chú hai gặp nạn vì thắp hương ở ngôi mộ vô chủ không? Có thể nào đó có liên quan đến cái chết của chú hai?”
Nghe vậy, bố trợn mắt, và nói: “Con cũng là đứa có học hành, sao lại tin mấy chuyện nhảm nhí thế? Cảnh sát sắp tới rồi, lúc họ hỏi gì thì cứ nói thật, rõ chưa? Chúng ta cần phải hợp tác với họ để tìm ra sự thật.”
Tôi nhìn bố, và nghĩ về những gì ông nội đã nói, nhưng chưa kịp nói hết câu, bố đã ngắt lời: “Ông già rồi, đầu óc không còn minh mẫn nữa. Chúng ta không nên để ý đến những gì ông nói.”
Quả nhiên, không lâu sau, xe cảnh sát tiến vào làng, đi cùng còn có bác sĩ pháp y.
Họ bắt đầu chất vấn chúng tôới nơi, và chúng tôi đều thành thật khai báo, hy vọng rằng họ sẽ tìm ra sự thật về cái chết của chú hai.
Tôi nhớ lại như thể chỉ mới xảy ra vài giây trước, khi thím hai là người đầu tiên phát hiện ra chú hai gặp nạn, cảnh sát đã dành nhiều thời gian để thẩm vấn thím, nhưần thíụp hoàn toàn, họ chẳng thu thập được thông tin gì hữu ích. Tôi có thể cảm nhận được sự bất lực trong giọng nói của cảnh sát khi họ yêu cầu chúng tôi dẫn họ đến hiện trường. Tại đó, tuy nhiên, cảnh tượng đã thay đổi hoàn toàn - nơi xảy ra vụ việc đã bị phá hủy, không còn manh mối giá trị nào.
Tôi nhìn thấy cảnh sát lấm lem bụi bẩn khi họ lần lượt kiểm tra từng ngóc ngách của hiện trường, nhưng tất cả đều vô ích. Sau vài giờ điều tra vô vọng, họ quyết địể chú hai về làm giám định, hứa sẽ có kết quả trong hai ngày. Khi thi thể bị mang đi, thím hai vẫn khóc thảm thiết, cố ngăn cản cảnh sát, và tôi có thể thấy sự tuyệt vọng trong mắt thím khi thím nói rằng chú hai đã chết rồi, hãy để chú yên nghỉ.
Tôi và bố phải giữ thím lại, giải thích rằng nếu chú hai thực sự bị hại, chúng ta phải đòi lại công bằng cho chú. Trong suốt quá trình đó, ông nội chỉ lặng lẽ ngồi trên bậc thềm, hút điếu thuốc này đến điếu khác, không nói lời nào. Có một điều kỳ lạ, đó là ông nội không có bất kỳ phản ứng gì, không một lời than thở, không một giọt nước mắt. Có lẽ ông đã quá già và có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, đến mức không còn có thể xúc động trước những biến cố như thế này.
Sau một đêm hỗn loạn, trời dần sáng trong làn sương mờ, và tôi có thể thấy những giọt sương đọng trên mái nhà, như những giọt nước mắt của trời. Thức trắng đêm, tôi nói với bố rồi lên giường ngủ, nhưng giấc ngủ của tôi không được thư giãn. Đang mơ màng, tôi chợt nghe tiếng ai đó thổi vào tai, gọi tên mình: “Tiểu Xuyên… Tiểu Xuyên…” Quay đầu nhìn theo hướng âm thanh, tôi giật bắn người khi thấy chú hai đứng đó, với một nụ cười ấm áp trên khuôn mặt.
Tỉnh giấc, mồ hôi lạnh toát khắp người, tôi thở gấp nhìn quanh, hóa ra chỉ là ác mộng. Nhưng giấc mơ ấy sao quá chân thực, đến mức tôi còn có thể cảm nhận được hơi thở của chú hai trên da. Rùng mình bước xuống giường, vừa ra đến cửa đã bị cơn gió lạnh buốt xuyên qua người. Tếẫn còn cái lạnh se sắt, và thêm vào đó, mưa phùn bay khiến không khí càng thêm buốt giá.
Tôi bất giác gọi: “Bố ơi!” nhưng tiếng gọà không nhận được hồi âm. Nhìn đồng hồ đã một giờ chiều, và tôi bắt đầu cảm thấy một sự lo lắng không thể giải thích được. Có lẽ đó là do ảnh hưởng của giấc mơ, hoặc có lẽ đó là do một điều gì đó khác, nhưng tôi không thể phủ nhận rằng tôi đang cảm thấy rất không an toàn.
Tôi bước ra khỏi cửa nhà, đội nón lá trên đầu, định sang nhà thíím có ở đó không, nhưng khi đến nơi, tôi chỉ thấy căn nhà trống vắng, không một bóng người.
Lòng tôi đầy nghi hoặc, tôi tự hỏi mọi người đi đâu hết rồi, hay là họ đã ra đình làng rồi, nhưng không có ai trả lời.
Đúng lúc ấy, tiếng gọi vang lên: “Anh Tiểu Xuyên!” và tôi quay lại nhìn, thấy hai đứa con nhỏ của chú hai – một bé gái mười tuổi và bé trai bảy tuổi ngơ ngác, chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.
“Tiểu Muội, mẹ em đâu rồi?” tôi hỏi, và cô bé đáp bằng giọng nghẹn ngào, mắt đỏ hoe: “Dạ, mẹ em theo ông lên núi rồi, ông nói phải lập mộ cho bố, vì cảnh sáể bố đi rồi, ông sợ linh hồn bố không có nơi về…”
Nghe xong, tim tôi thắt lại, và tôi không thể không liên tưởng đến giấc mộng vừa rồi, phải chăng chú hai đang báo mộng rằng mình không nơi nương tựa, lòng tôi dâng lên nỗi lo sợ.
Thấy Tiểu Muội đau khổ, tôi chỉ biết an ủồi dặn em trông cậu út, địài, nhưng Tiểu Muội đột ngột gọi giật lại: “Anh Tiểu Xuyên, anh lên núi đúng không? Cho em đi cùng nhé?”
“Không phải đâu, anh đi tìm bố anh,” tôi nói dối, vì chỗ đất mộ mà dẫn theo hai đứa trẻ thì không ổn chút nào.
Trước khi lên núi, tôi gửi nhờ hàng xóm trông hộ hai đứa bé, và khi tôi bước lên đường, tôi cảm thấy một luồng khí u ám bao trùm không gian, và tôi không thể không nghĩ về những gì vừa xảy ra.
Đường lên núi mộ mưa lất phất, trời xám xịt, từng cơn gió rít qua khiến người run lẩy bẩy, và dọc đường, giấy tiền vàng mã cùng xác pháo đỏ rải rác khắp nơi.
Vô hình trung, một luồng khí quái dị bao trùm không gian, và tôi cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới khác.
Đến nơi chú hai gặp nạn, tôi thấy ông nội và thím hai đang đốt vàng mã, tạm thời lập bia mộ cho chú, thím hai khóc như mưa như gió, và ông nội chỉ đứng im bên cạnh, mặt mày âm trầm khó tả.
Tôi đứng đó, im lặng, không biết phải nói gì, chỉ có thể cảm nhận được nỗi đau và sự tuyệt vọng của họ, và tôi không thể không nghĩ về những gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Khi tôi xuất hiện trước mặt ông, ông hỏi tôi: “Tiểu Xuyên, cháu lên đây làm gì thế?”
Tôi đáp: “Dạ cháu muốn xem có thể giúp đỡ được gì không ạ.”
Ông thở dài và nói: “Mọi việc đã xong, xuống núi thôi.”
Thím hai liếc nhìn tôi một cách nhanh chóng và nói: “Hai người xuống núi trước đi, con muốn ở lại đây một lát nữa.”
Chúng tôi nhìn nhau, và tôi không thể không nghĩ về cái lạnh cắt da cắt thịt ngoài trời, cũng như hai đứa con nhỏ của thím hai vẫn còn ở nhà. Tôi cảm thấy cần phải nhắc nhở thím hai về trách nhiệm của mình. Thím hai nói với tôi: “Tiểu Xuyên, hai đứa nhỏ từ nhỏ đã rất nghe lời cháu, cháu giúp thím trông chúng nhé, bảo chúng thím sẽ về sau.”
Mắt thím hai đã sưng húp vì khóc, và có vẻ như cô đã bị cái chết của chú hai ảnh hưởng rất sâu sắc.
Tôi cảm thấy bối rối và không biết nói gì, nên tôi liếc nhìồi lại hướng mắt vào sâu trong nghĩa địa. Tôi nhớ lại bà nội của mình, người đã biến mất tại đây từ rất lâu. Tôi chưa bao giờ hiểu rõ về câu chuyện của bà, chỉ nghe bố nhắài câu.
Trên đường xuống núi với ông, tôi không thể không hỏi về chuyện bà nội. Tôi muốn biết thêm một số chi tiết. Tuy nhiên, ông lại trả lời một cách qua quýt và bảo tôi đừng nhắc lại chuyện cũ nữa. Ông trông rất nghiêm nghị và ảm đạm, nên tôi đành thôi không dò hỏi thêm.
Khi chúng tôi xuống tới chân núi, tôi chào ông và sang nhà chú hai để trông hai đứa nhỏ. Mãi đến 6-7 giờ tối, thím hai vẫn chưa về. Tôi phải vào bếp nấu cơm cho hai đứa bé. 8 giờ tối, thím hai mới lảo đảo trở về, trông rất mệt mỏi và đau khổ. Mặt thím trắng bệch, hai vệt nước mắt hằn rõ trên gò má, và trạng thái của thím nhìn rất tệ.
Tôi chạy về nhà, thấy mẹ đang chuẩn bị bữa tối, trong khi bố tôi còn chưa về. Hai đứa em tôi thấy mẹ, liền chạy đến ôm lấy bà, còn tôi thì chờ đợi bố về để biết thêm thông tin về chú hai.
Khi bố tôi về đến nhà, đã gần 10 giờ tối. Ông ấột tờ giấy, có vẻ như là kết quả khám nghiệm tử thi của chú hai. Bố tôi cho biết nguyên nhân tử vong là do đột tử vì đau tim, như vậy đã loại trừ khả năng bị hại. Tôi cảm thấy một chút nhẹ nhõm khi biết rằng không có gì khả nghi về cái chết của chú hai.
Bố tôi bảo tôi: “Tiểu Xuyên, hãy đi gọi ông nội sang đây, chúng ta cần bàn việc tang lễ cho chú hai vào ngày mai.”
Tôi vâng lời và chạy đi gọi ông nội. Khi tôi trở về, thím hai đã có mặt từ trước, và ba người chúng tôi ngồi lại để bàn việc tang lễ. Ông nội nói rằng chú hai có một cái chết kỳ lạ, nên chúng ta cần mời pháp sư đến làm lễ. Bố tôi ban đầu không đồng ý, cho rằng việc đó là tốn tiền vô ích, nhưng không thể cãi lại được ông nội, nên đành phải chiều theo.
Thím hai cứ nhắc đến đám tang của chú hai là lại khóc nức nở. Việc lo liệu đám tang đành dồn cả lên vai bố con tôi. Tôi cảm thấy một chút áp lực khi phải giúp đỡ trong việc này, nhưng cũng biết rằng đó là nhiệm vụ của tôi.
Sáng hôm sau, tôi cầm chiếc chuông đồng và đi quanh làng, gõ chuông để báo hiệu cho mọi người biết rằng nhà chúng tôi có tang. Nghe tiếng chuông, dân làng hiểu ngay sự tình và tự nguyện sang giúp. ệc, tôi chạy sang nhà thím hai để xem có gì cần giúp đỡ không.
Vừa bước vào phòng, tôi đã thấy thím hai đang gấp quần áo của chú hai. Người đã mất, những thứ này đều phải đem hỏa táng. Nhưng lúc này, tôi chợt thấy trên cổ tay thím hai có vài vết bầm tím. Tôi cảm thấy một chút nghi ngờ và hỏi: “Thím hai, tay làm sao thế?”
Thím hai vội kéo tay áo xuống che đi những vết thương và nói: “Không sao, tối qua xuống núi vội quá bị ngã.” Nhìn mấy vết bầm đó, rõ ràng không giống do ngã. Nhưng thím hai không muốn nói, và tôi cũng không tiện hỏi thêm. Mắt tôi lướt quanh phòng, chợt phát hiện góc giường có một lọ thuốc trong suốt, trông giống như dịch truyền.
Tôi hỏi: “Thím hai, cái gì thế?”
Tôi đứng bên cạnh thím hai, quan sát bàn tay tôi đang cầm một chiếc áo đã gấp sẵn. Thím hai nhìôi và nói: “Thằng em cháu mấy hôm trước bị cảm sốt, thím mua thuốc ở viện về, lát nữạm xá truyền.”
Đang định hỏi thêm về tình hình sức khỏe của chú hai thì thím hai giục tôi, đưa chồng quần áo đã gấp: “Tiểu Xuyên, mang ra đốt đi.”
“Vâng ạ.” Tôi cầm quần áo chú hai đi ra, trong lòng tôi có chút cảm giác kỳ lạ. Tôi không hiểu tại sao thím hai lại muốn đốt quần áo của chú hai, nhưng tôi quyết định không hỏi thêm.
Đám tang chú hai diễn ra suôn sẻ, nhưng ngày mất lại khá đặc biệt. Theo lời ông nói, tháng ba là tháng của những linh hồn, tháng tư là tháng của những người đã khuất. Nếu không mời pháp sư siêu độ, chú hai e rằng tháng tư sẽ trở thành một thời kỳ đầy nguy hiểm.
Tôi nhìn ông pháp sư đang lảm nhảm, nhảy nhót quanh mộ như lên đồng, và trong lòng tôi càng nghĩ rằng hắn chỉ là một tên lừa đảo kiếm tiền. Hơn nữa, kết quả khám nghiệm đã xác nhận chú hai đột tử do tim. Chuyện thắp hương trước mộ vô chủ gây họa, chẳng qua là trùng hợp ngẫu nhiên.
Liếc nhìn vài nấm mồ vô chủ bên cạnh, tôi không tin vào tà ma. Nhân lúc không ai để ý, tôi lén thắp hương cho mộ bên cạnh. Tôi không tin rằng cái chết của chú hai lại liên quan gì đến chuyện thắp hương mộ vô chủ! Trong lòng tôi, có một cảm giác vừa tò mò vừa lo lắng.
Kết thúc lễ hương, tôi theo đoàn người xuống núi. Đúng lúc đó, thím hai bỗng tiến lại gần. Tôi tưởng thím có việc cần nhờ, chủ động hỏi: “Thím hai còn gì cần cháu làm không?”
Ai ngờ thím hai không nói không rằng, kéo tôi sang một bên. Hành động kỳ lạ của thím hai khiến lòng tôi dâng lên bất an. Tôi ngơ ngác nhìn thím, và trong lòng tôi có một cảm giác không an toàn.
Thím hai hỏi ngay: “Tiểu Xuyên, nãy cháu có thắp hương cho cái mộ hoang nào không?”
Giọng thím hai hạ thấp, ánh mắt nhìn tôi kỳ quặc khiến tim tôi đập thình thịch. Tôi lắp bắp: “Không, không có. Có chuyện gì sao thím?” Trong lòng tôi, có một cảm giác vừa sợ hãi vừa tò mò. Tôi không hiểu tại sao thím hai lại hỏi như vậy, và tôi quyết định sẽ tìm hiểu thêm về việc này.
Tôi nhìn lên, gặp đôi mắt lo lắng của mẹ. Câu hỏi của bà vẫn còn văng vẳng trong không khí, như một hồi chuông cảnh báo tôi rằng có điều gì đó không ổn.
Tôi cố gắng mỉm cười, nhưng nụ cười đó có vẻ rất gượng gạo. "
Mẹ ơi, con không sao, chỉ là một chút mệt mỏi thôi," tôi nói, cố gắng làm cho giọng nói của mình trở nên nhẹ nhàng và yên tâm.
Mẹ tôi vẫn nhìn tôi với sự nghi ngờ, như thể bà không tin vào lời nói của tôi. Tôi có thể hiểu được sự lo lắng của bà, vì tôi cũng đã thấy được sự thay đổi trong bản thân mình. Có điều gì đó không đúng, nhưng tôi không biết đó là gì.
Tôi cố gắng nhớ lại những gì đã xảy ra gần đây, nhưng mọi thứ dường như vẫn bình thường. Tôi đã đi học, đã gặp gỡ bạn bè, đã làm việc nhà... Nhưng có lẽ, chính sự bình thường đó đã khiến tôi cảm thấy không ổn.
"
Mẹ ơi, con cần một chút thời gian để nghĩ ngợi," tôi nói, cố gắng làm cho mẹ tôi hiểu. "
Con sẽ ổn, mẹ đừng lo lắng."
Mẹ tôi nhìn tôi một lúc lâu, rồi gật đầu. "
Được, con à, mẹ sẽ không lo lắng. Nhưng nếu con cần gì, hãy nhớ rằng mẹ luôn ở đây để giúp đỡ con."